Ngôn ngữ:
Tư vấn hôn nhân gia đình
Tài sản riêng-tài sản chung của vợ chồng
Năm 2002 vợ tôi đứng tên mua căn nhà có giấy tờ hợp lệ nhưng không phải là giấy hồng. Năm 2003 chúng tôi kết hôn, đến năm 2006 vợ chồng tôi làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng nhà ở và Quyền sử dụng đất ở. Trong đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận ghi tên của hai vợ chồng (vì thời điểm này chúng tôi đã kết hôn) và cuối cùng chủ quyền nhà đất ghi tên cả tôi và vợ là đồng sở hữu. Hiện nay vợ tôi tranh chấp, cho rằng tài sản đó là của riêng cô ấy? Xin hỏi điều đó có đúng không?
Trả lời:
Trường hợp của anh, vợ anh và anh kết hôn năm 2003, còn ngôi nhà do vợ anh đứng tên đã được mua từ năm 2002. Từ đó có thể xác định rằng, ngôi nhà này vào thời điểm hai người xác lập mối quan hệ hôn nhân là tài sản riêng của vợ anh, theo  Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình 2000:
"Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân."
Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định rằng, tài sản riêng có thể được nhập vào tài sản chung tùy theo ý muốn của người sở hữu tài sản riêng đó. Điều này được quy định tại Điuè 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 như sau:
"Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận."
Theo quy định đó, cho đến năm 2006, khi vợ chồng anh chưa làm thủ tục đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới thì ngôi nhà đó vẫn là tài sản riêng của vợ anh; nhưng chính bởi việc vợ chồng anh làm thủ tục này với tên của cả hai người trong đơn đã là sự đồng ý gián tiếp của vợ anh trong việc nhập tài sản riêng của chị ấy vào tài sản chung của hai vợ chồng. Do vậy, từ năm 2006, căn nhà nói trên đã không còn là tài sản riêng của chị ấy nữa mà đã trở thành tài sản chung hợp nhất của vợ chồng theo quy định của pháp luật. 
Ý kiến khách hàng
Ông Dương Mạnh Hùng Phó Trưởng đại diện của Công ty Cổ phần “E4 Group” (Nga) tại Việt Nam
Chúng tôi đã sử dụng nhiều dịch vụ của công ty Lincon và rất hài lòng với những ý kiến tư vấn của họ, do đó tôi đã giới thiệu nhiều khách hàng của chúng tôi ở Liên bang Nga sử dụng dịch vụ tư vấn luật của Lincon và họ luôn nói rằng, họ biết ơn đối với đề nghị tuyệt vời của tôi.
Ông Trần Việt Sơn, Tổng giám đốc Công ty Sông Đà 207 – Tập đoàn Sông Đà
Tôi quen biết Mr. Kỳ và Công ty Luật Lincon từ nhiều năm nay. Tôi thấy rằng đội ngũ luật sư của Lincon rất nhiệt tình và biết lắng nghe ý kiến của khách hàng. Tôi đặc biệt hài lòng về dịch vụ tư vấn và xử lý các tranh chấp về lao động của họ.
Ông Lê Hùng Nam – Chủ sở hữu của chuỗi cửa hàng CHEN RESTAURANT tại Hà Nội”
Công ty Luật Lincon và luật sư Quân đã cung cấp cho chúng tôi dịch vụ chất lượng về tư vấn pháp lý cũng như dịch vụ liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại.Tôi hài lòng về dịch vụ của Quý công ty và đánh giá cao sự hợp tác này giữa hai bên.
Bà Nguyễn Minh Nguyệt – Trưởng phòng HCNS Tập đoàn Nissan Techno Vietnam”
Công ty Luật Lincon đã tư vấn cho chúng tôi rất nhiều vấn đề về đầu tư và lao động. Tôi thấy rằng họ giải thích rất kỹ các vấn đề về pháp luật. Và một lợi thế khác của họ so với các công ty tư vấn là sự chuyên sâu về ngôn ngữ và am hiểu văn hóa Nhật Bản. Tôi và các giám đốc người Nhật rất ủng hộ và tin tưởng dịch vụ mà họ cung cấp.
Khách hàng

Khách hàng ngoài nước
LINCON All Rights Reserved 2014 Privacy policy