Ngôn ngữ:
Tư vấn hôn nhân gia đình
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Tôi và chồng tôi kết hôn năm 2008. Sau khi kết hôn, bố mẹ chồng tôi cho chúng tôi một mảnh đất rộng 200m2 để xây dựng nhà ở. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng tôi cũng làm ra được một chút tài sản riêng khác. Nay, chồng tôi muốn lập công ty kinh doanh, nhưng lại sợ việc thua lỗ sẽ ảnh hưởng tới gia đình tôi. Theo luật sư, chúng tôi có thể làm gì để hạn chế điều này?
Trả lời:
Trong trường hợp của chị, hướng giải quyết mà chúng tôi đưa ra là: chị và chồng chị tiến hành chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Việc chia tài sản chung trong hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật, nhưng quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa chị và chồng chị sẽ được tách biệt theo thỏa thuận phân chia tài sản đó. Theo đó, chị sẽ không phải chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp công ty của chồng chị bị thua lỗ và cuộc sống của gia đình chị vẫn có thể duy trì bình thường. Thủ tục chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được tiến hành bằng việc lập văn bản thỏa thuận chia sản sản chung của vợ chồng (Khoản 1 Điều 6 Nghị định 70/2001/NĐ-CP).
Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
- Ngày, tháng, năm lập văn bản
- Lý do chia tài sản: chồng đầu tư kinh doanh riêng (Điều 29 Luật hôn nhân gia đình năm 2000)
- Phần tài sản chia (mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia), bao gồm:
+ Bất động sản: mảnh đất 200m2 nói trên
+ Động sản: các khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền đầu tư kinh doanh....
+ Các quyền tài sản
- Phần tài sản còn lại không chia (nếu có)
- Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung
- Các nội dung khác (nếu có)
- Chữ ký của cả vợ và chồng
- Chữ ký của người làm chứng (nếu có người làm chứng)
Lưu ý: trường hợp của chị, bởi vì có bất động sản (mảnh đất 200m2) nói trên nên khi tiến hành chia tài sản thì cần công chứng văn bản phân chia tài sản chung của hai vợ chồng.
Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung: từ thời điểm văn bản phân chia tài sản chung được công chứng (Điều 7 Nghị định 70/2001/NĐ-CP).
Ý kiến khách hàng
Ông Dương Mạnh Hùng Phó Trưởng đại diện của Công ty Cổ phần “E4 Group” (Nga) tại Việt Nam
Chúng tôi đã sử dụng nhiều dịch vụ của công ty Lincon và rất hài lòng với những ý kiến tư vấn của họ, do đó tôi đã giới thiệu nhiều khách hàng của chúng tôi ở Liên bang Nga sử dụng dịch vụ tư vấn luật của Lincon và họ luôn nói rằng, họ biết ơn đối với đề nghị tuyệt vời của tôi.
Ông Trần Việt Sơn, Tổng giám đốc Công ty Sông Đà 207 – Tập đoàn Sông Đà
Tôi quen biết Mr. Kỳ và Công ty Luật Lincon từ nhiều năm nay. Tôi thấy rằng đội ngũ luật sư của Lincon rất nhiệt tình và biết lắng nghe ý kiến của khách hàng. Tôi đặc biệt hài lòng về dịch vụ tư vấn và xử lý các tranh chấp về lao động của họ.
Ông Lê Hùng Nam – Chủ sở hữu của chuỗi cửa hàng CHEN RESTAURANT tại Hà Nội”
Công ty Luật Lincon và luật sư Quân đã cung cấp cho chúng tôi dịch vụ chất lượng về tư vấn pháp lý cũng như dịch vụ liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại.Tôi hài lòng về dịch vụ của Quý công ty và đánh giá cao sự hợp tác này giữa hai bên.
Bà Nguyễn Minh Nguyệt – Trưởng phòng HCNS Tập đoàn Nissan Techno Vietnam”
Công ty Luật Lincon đã tư vấn cho chúng tôi rất nhiều vấn đề về đầu tư và lao động. Tôi thấy rằng họ giải thích rất kỹ các vấn đề về pháp luật. Và một lợi thế khác của họ so với các công ty tư vấn là sự chuyên sâu về ngôn ngữ và am hiểu văn hóa Nhật Bản. Tôi và các giám đốc người Nhật rất ủng hộ và tin tưởng dịch vụ mà họ cung cấp.
Khách hàng

Khách hàng ngoài nước
LINCON All Rights Reserved 2014 Privacy policy